Chào mừng quý vị đến với website của Trường Tiểu học Phúc Sơn - Chiêm Hoá - Tuyên Quang
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành
viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của
Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Hướng dẫn viết SKKN

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Sưu tầm
Người gửi: Nguyễn Thanh Tùng (trang riêng)
Ngày gửi: 10h:54' 30-12-2009
Dung lượng: 30.5 KB
Số lượt tải: 11
Nguồn: Sưu tầm
Người gửi: Nguyễn Thanh Tùng (trang riêng)
Ngày gửi: 10h:54' 30-12-2009
Dung lượng: 30.5 KB
Số lượt tải: 11
Số lượt thích:
0 người
HƯỚNG DẪN VIẾT SÁNG KIẾN, KINH NGHIỆM
Tìm tòi sáng kiến, kinh nghiệm (SK,KN) là một trong những lĩnh vực nghiên cứu khoa học. Tuy chưa phải là đề tài cấp cao (tỉnh, quốc gia), nhưng việc trình bày bản SK,KN cũng mang những yêu cầu cơ bản của một đề tài nghiên cứu khoa học, tất nhiên là có lược bớt.
Sau đây là hướng dẫn viết một bản SK,KN áp dụng cho Trường Đại học Tiền Giang từ năm 2006.
Tên SK,KN: Là một câu ngữ pháp chuẩn xác. Nó bao gồm cả nội dung và hình thức của bản SK,KN.
Kết cấu của SK,KN
SK,KN gồm 3 phần
1. Mở đầu
Phần này trình bày phương pháp tiếp cận SK,KN. Nó giúp người đọc biết được lý do chọn đề tài, ý nghĩa của sáng kiến, kinh nghiệm do mình tạo ra, và tác giả đã làm gì để hoàn thành sáng kiến, kinh nghiệm đó, từ đó đánh giá được mức độ thành công. Do vậy, dàn bài của phần này như sau (khoảng 1 – 3 trang):
1. Lý do chọn SK,KN
2. Lịch sử của SK,KN
3. Mục đích nghiên cứu SK,KN
4. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
5. Giới hạn (phạm vi) nghiên cứu
6. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu.
2. Nội dung
Đây là phần chính (khoảng 3 – 10 trang). Phần này trình bày tiến trình nghiên cứu và kết quả thu được. Phải viết với văn phong nghiên cứu khoa học: viện dẫn, chứng minh chặt chẽ, nói có sách, mách có chứng; từ ngữ rõ ràng, chuẩn xác, nếu cần định nghĩa các khái niệm được dùng; nếu trích câu nói của ai (thường là nhà khoa học, học giả, những người có tên tuổi trong giới chuyên môn liên quan với đề tài …) phải dẫn rõ nguồn từ tác giả nào? sách nào? nhà xuất bản nào? năm nào? trang nào? … Câu trích dẫn cần chính xác và viết chữ nghiêng (có thể dùng footnote để ghi dấu cuối trang); nếu chứng minh cũng phải có sức thuyết phục (nên có chứng minh, thí nghiệm kiểm chứng, thực nghiệm, điều tra xã hội học, có số liệu so sánh, đối chiếu với cách làm cũ trước đây, …) Tránh kể lể dài dòng, câu văn không chuẩn.
Dàn bài phần này thường được trình bày dưới dạng các chương (ghi là chương 1, chương 2, chương 3, …), nếu bài ngắn có thể trình bày các mục lớn theo số La Mã. Khi phân theo chương thì ít nhất là 3 chương. Nếu là sáng kiến (có tìm tòi, phát minh) thì phải chứng minh được là trước đó chưa ai tìm ra như của tác giả, và thực nghiệm (hoặc chứng minh) rõ ràng cùng kết quả của nó. Nếu là kinh nghiệm (đúc kết từ thực tiễn) thì cũng tổng kết thành bài học, nếu được, đưa ra quy trình để thực hiện. Tất cả phải khả thi và mang tính phổ biến (nhiều người học được, và khi họ làm đúng quy trình và đều cho ra kết quả như đã tổng kết. Cuối tập sáng kiến, kinh nghiệm thường có phụ lục (hình ảnh, số liệu, sản phẩm, biểu mẫu, văn bản đính kèm, …), và mục lục tài liệu tham khảo đã dùng cho việc viết SK, KN
Nói chung, phải biết sắp xếp các ý cho sự diễn đạt mạch lạc, thu hút, lôi cuốn, đặt biệt là thuyết phục người đọc bằng khả năng trình bày kết quả xuất sắc của mình. Sáng kiến, kinh nghiệm tốt cùng với phương pháp diễn đạt tốt sẽ giúp tác giả thành công khi nghiệm thu.
3. Kết luận
Trong phần này, tác giả đúc kết lại những nội dung chính đã trình bày; đề ra biện pháp để triển khai, áp dụng sáng kiến, kinh nghiệm vào thực tiễn; nêu lên những kiến nghị, đề xuất nếu có và hướng phát triển của đề tài.
3. Tài liệu tham khảo:
Tài liệu tham khảo được sắp xếp theo thứ tự a, b, c của tên tác giả. Mỗi tài liệu tham khảo được viết theo tên tác giả, tên tài liệu tham khảo (in chữ nghiêng), nhà xuất bản, năm xuất bản. Thí dụ:
- Nguyễn Văn A, Kinh tế, NXB …, 2005
- Nguyễn Văn B, Văn hóa, NXB …, 2006
4. Tác giả cũng cần ghi mục lục vào cuối đề tài để người đọc dễ theo dõi.
5. Về hình thức sáng kiến, kinh nghiệm:
Tất cả được đóng thành tập. Nói chung toàn tập cũng không nên quá dày (tối đa 20 trang ruột, trừ trường hợp đặc biệt có thể nâng lên thành đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, tỉnh, quốc gia). Văn bản cần
Tìm tòi sáng kiến, kinh nghiệm (SK,KN) là một trong những lĩnh vực nghiên cứu khoa học. Tuy chưa phải là đề tài cấp cao (tỉnh, quốc gia), nhưng việc trình bày bản SK,KN cũng mang những yêu cầu cơ bản của một đề tài nghiên cứu khoa học, tất nhiên là có lược bớt.
Sau đây là hướng dẫn viết một bản SK,KN áp dụng cho Trường Đại học Tiền Giang từ năm 2006.
Tên SK,KN: Là một câu ngữ pháp chuẩn xác. Nó bao gồm cả nội dung và hình thức của bản SK,KN.
Kết cấu của SK,KN
SK,KN gồm 3 phần
1. Mở đầu
Phần này trình bày phương pháp tiếp cận SK,KN. Nó giúp người đọc biết được lý do chọn đề tài, ý nghĩa của sáng kiến, kinh nghiệm do mình tạo ra, và tác giả đã làm gì để hoàn thành sáng kiến, kinh nghiệm đó, từ đó đánh giá được mức độ thành công. Do vậy, dàn bài của phần này như sau (khoảng 1 – 3 trang):
1. Lý do chọn SK,KN
2. Lịch sử của SK,KN
3. Mục đích nghiên cứu SK,KN
4. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
5. Giới hạn (phạm vi) nghiên cứu
6. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu.
2. Nội dung
Đây là phần chính (khoảng 3 – 10 trang). Phần này trình bày tiến trình nghiên cứu và kết quả thu được. Phải viết với văn phong nghiên cứu khoa học: viện dẫn, chứng minh chặt chẽ, nói có sách, mách có chứng; từ ngữ rõ ràng, chuẩn xác, nếu cần định nghĩa các khái niệm được dùng; nếu trích câu nói của ai (thường là nhà khoa học, học giả, những người có tên tuổi trong giới chuyên môn liên quan với đề tài …) phải dẫn rõ nguồn từ tác giả nào? sách nào? nhà xuất bản nào? năm nào? trang nào? … Câu trích dẫn cần chính xác và viết chữ nghiêng (có thể dùng footnote để ghi dấu cuối trang); nếu chứng minh cũng phải có sức thuyết phục (nên có chứng minh, thí nghiệm kiểm chứng, thực nghiệm, điều tra xã hội học, có số liệu so sánh, đối chiếu với cách làm cũ trước đây, …) Tránh kể lể dài dòng, câu văn không chuẩn.
Dàn bài phần này thường được trình bày dưới dạng các chương (ghi là chương 1, chương 2, chương 3, …), nếu bài ngắn có thể trình bày các mục lớn theo số La Mã. Khi phân theo chương thì ít nhất là 3 chương. Nếu là sáng kiến (có tìm tòi, phát minh) thì phải chứng minh được là trước đó chưa ai tìm ra như của tác giả, và thực nghiệm (hoặc chứng minh) rõ ràng cùng kết quả của nó. Nếu là kinh nghiệm (đúc kết từ thực tiễn) thì cũng tổng kết thành bài học, nếu được, đưa ra quy trình để thực hiện. Tất cả phải khả thi và mang tính phổ biến (nhiều người học được, và khi họ làm đúng quy trình và đều cho ra kết quả như đã tổng kết. Cuối tập sáng kiến, kinh nghiệm thường có phụ lục (hình ảnh, số liệu, sản phẩm, biểu mẫu, văn bản đính kèm, …), và mục lục tài liệu tham khảo đã dùng cho việc viết SK, KN
Nói chung, phải biết sắp xếp các ý cho sự diễn đạt mạch lạc, thu hút, lôi cuốn, đặt biệt là thuyết phục người đọc bằng khả năng trình bày kết quả xuất sắc của mình. Sáng kiến, kinh nghiệm tốt cùng với phương pháp diễn đạt tốt sẽ giúp tác giả thành công khi nghiệm thu.
3. Kết luận
Trong phần này, tác giả đúc kết lại những nội dung chính đã trình bày; đề ra biện pháp để triển khai, áp dụng sáng kiến, kinh nghiệm vào thực tiễn; nêu lên những kiến nghị, đề xuất nếu có và hướng phát triển của đề tài.
3. Tài liệu tham khảo:
Tài liệu tham khảo được sắp xếp theo thứ tự a, b, c của tên tác giả. Mỗi tài liệu tham khảo được viết theo tên tác giả, tên tài liệu tham khảo (in chữ nghiêng), nhà xuất bản, năm xuất bản. Thí dụ:
- Nguyễn Văn A, Kinh tế, NXB …, 2005
- Nguyễn Văn B, Văn hóa, NXB …, 2006
4. Tác giả cũng cần ghi mục lục vào cuối đề tài để người đọc dễ theo dõi.
5. Về hình thức sáng kiến, kinh nghiệm:
Tất cả được đóng thành tập. Nói chung toàn tập cũng không nên quá dày (tối đa 20 trang ruột, trừ trường hợp đặc biệt có thể nâng lên thành đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, tỉnh, quốc gia). Văn bản cần
 








Các ý kiến mới nhất